Category Archives: Giáo dục trẻ

Luu y khi day be

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

(copy tu webtretho)

1. Nói ít, làm nhiều

Thống kê cho thấy mỗi ngày trẻ em nhận được khoảng 2000 mệnh lệnh hay yêu cầu của người lớn. Do vậy, nếu trẻ em trở nên ‘điếc’ trước cha mẹ thì âu cũng là điều dễ hiểu. Thay vì quát tháo, la hét, rầy la, kêu ca, cằn nhằn, cha mẹ hãy tự hỏi: ‘Ta cần LÀM gì?’ Ví dụ, thay vì cằn nhằn về việc trẻ em không lộn tất ra khi cởi ra, hãy chỉ giặt những cái đã lộn. Hành động thường hiệu quả hơn lời nói. (Action speaks louder than words).

2. Tách biệt hành vi và thủ phạm

Đừng bao giờ bảo trẻ em là chúng xấu/hư vì điều này sẽ làm hỏng lòng tự trọng của trẻ. Hãy giúp trẻ em nhận ra rằng không phải chúng ta không thích hay không yêu nó mà là chúng ta không tán thành hay thấy khó chấp nhận hành vi của nó. Để trẻ có lòng tự trọng, chúng cần phải biết rằng chúng được yêu thương vô điều kiện, bất chấp chúng làm cái gì. Đừng bao giờ rút lại tình yêu thương dành cho chúng với hy vọng điều đó sẽ làm chúng sẽ ngoan lên.

3. Tạo cho trẻ cơ hội để thể hiện quyền lực

Nếu không, chúng sẽ tự tìm ra những cách không thích hợp để thể hiện! Những cách có thể làm trẻ em cảm thấy mình có quyền lực và thấy mình là người đáng giá là: hỏi ‎ kiến của chúng, để chúng tự chọn lựa, để chúng giúp những việc chúng có thể làm được, yêu cầu chúng giúp đỡ hay cố vấn… Một đứa trẻ 2 tuổi có thể rửa bát đĩa nhựa, nhặt rau, hay cất bát đũa đi. Thông thường, người lớn làm thay cho chúng bởi vì chúng ta có thể làm nhanh gọn hơn, nhưng hậu quả lại là làm cho trẻ cảm thấy chúng không quan trọng.

4. Chỉ can thiệp khi thực sự cần thiết

Trước mỗi tình huống chúng ta hãy tự hỏi: điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta không can thiệp? Nếu chúng ta can thiệp một cách không cần thiết thì vô tình chúng ta đã làm mất đi cơ hội để trẻ rút kinh nghiệm từ hành động của chúng. Bằng cách để cho các hậu quả xảy ra, chúng ta còn tránh được việc gây tổn hại đến quan hệ của chúng ta với trẻ khi chúng ta cằn nhằn nhắc nhở chúng quá nhiều. Chẳng hạn, nếu trẻ quên không mang đồ ăn trưa, chúng ta không nên mang đến cho chúng. Hãy để nó tự tìm ra giải pháp và biết việc cần ghi nhớ quan trọng thế nào.

5. Rút lui khi có xung đột

Nếu trẻ nắn gân chúng ta bằng cách hờn dỗi, cáu giận, hay nói năng vô lễ, cách tôt nhất là chúng ta rút lui khỏi chỗ đó hoặc nói với chúng rằng chúng ta ở phòng cạnh nếu chúng muốn làm lại (try again). Không nên tỏ thái độ bực tức hay thất bại khi rút lui. Nếu cha mẹ cảm thấy không thể rút lui được hay không kiềm chế được thì hãy ngồi yên và đếm từ 1 đến 10 để hạ hỏa!

6. Dành thời gian chơi và nói chuyện với trẻ

Người lớn, vì nhiều lí do, thường không chịu lắng nghe hay chỉ giả vờ nghe những gì trẻ nói. Đó cũng là một trong những lí do trẻ em trở nên hư và nhiều hậu quả tình cảm khác. Dành thời gian với trẻ sẽ giúp chúng phát triển lòng tự tin và tự trọng, nhưng nên nhớ rằng cái quan trọng là chất lượng chơi và nói chuyện chứ không phải là thời gian chơi nhiều hay ít. Cũng cần phải thừa nhận rằng cảm xúc thì không có gì là sai hay đúng cả. Do vậy, nếu bé nói ‘Mẹ ơi, mẹ chả bao giờ chơi với con cả!’ cho dù bạn vừa mới chơi với bé, hãy hiểu rằng chúng chỉ đang bày tỏ cảm xúc của chúng thôi. Trong trường hợp này, cách tốt nhất là xác nhận cảm xúc đó của bé bằng cách nói, ‘Ừ nhỉ, hình như đã lâu lắm rồi mẹ con ta chưa chơi với nhau thì phải.’

7. Thông báo trước cho trẻ

Việc trẻ em hờn dỗi có thể làm nhiều cha mẹ nổi cơn tam bành. Trẻ thường hờn dỗi khi chúng cảm thấy bất lực và không được thông báo trước. Thay vì bảo bé phải ngừng chơi ngay để đi về nhà, chúng ta hãy thông báo cho bé biết là bé còn 5 phút hay 10 phút nữa – thời gian này cho phép bé làm nốt những gì đang làm dở và cũng là để chuẩn bị tâm lí cho bé.

8. Né tránh xung đột khi xảy tranh tranh giành quyền lực

Bước đầu tiên là né tránh. Một bà mẹ yêu cầu con gái 3 tuổi đi ngủ vì đã đến giờ. Bé trả lời, ‘Không!’ Cảm thấy mình bị thách thức, bà mẹ liền nói, ‘Con muốn tự đi lên phòng hay con muốn mẹ bế con lên phòng nào?’ ‘Con muốn mẹ bế con trồng cây chuối và cù con khi bế con lên phòng’, bé trả lời.

Bà mẹ đã nhận ra tín hiệu ‘thách đấu’ của bé và đã né tránh xung đột (không tham gia tranh giành quyền lực mà cũng không nhượng bộ) và đã kết thúc có hậu. Bằng việc né tránh xung đột, chúng ta muốn chuyển đến bé thông điệp rằng: ‘Mẹ sẽ không ‘chiến đấu’ với con đâu, mẹ cũng không làm con tổn thương đâu, mẹ cũng không tỏ quyền lực với con đâu, nhưng mẹ cũng không nhượng bộ con đâu!’

9. Cho trẻ em lựa chọn chứ không ra lệnh

Sau khi đã né tránh tranh giành quyền lưc, bước tiếp theo là đưa ra những sự lựa chọn chứ không phải mệnh lệnh. Một ông bố muốn thay tã cho con 18 tháng nhưng bé phản đối đã cho bé chọn được thay tã ở phòng nào. Bé chọn một phòng, nhưng ngay sau khi vào phòng bé lại không muốn thay tã nữa. Ông bố tiếp tục cho bé chọn được thay ở giường nào, bé chỉ vào một giường, thế là việc thay tã đã được thực hiện và ‘cuộc ‘đấu tranh giành quyền lực đã kết thúc một cách nhẹ nhàng.

Khi đưa ra những sự lựa chọn cho trẻ, phải đảm bảo rằng những sự lựa chọn đó là chấp nhận được. Đừng bắt trẻ phải chọn giữa ngồi yên và rời khỏi nhà hàng nếu bạn không có ‎định rời nhà hàng.

Cũng phải đảm bảo rằng bạn không đưa ra quá nhiều sự lựa chọn độc đoán. Một lựa chọn độc đoán là một lựa chọn quá hẹp làm trẻ thấy không còn chút tự do nào. Mặc dù lựa chọn hẹp cũng có thể có lợi cho trẻ trong một số tình huống nhất định, tốt hơn là nên cố gắng đưa ra những lựa chọn gọi mở mỗi khi có thể.

Những sự lựa chọn cũng không nên có yếu tố trừng phạt trong đó. Chẳng hạn, bảo bé rằng, ‘Hoặc con nhặt đồ chơi lên hoặc con ra toa-lét’ sẽ làm trẻ cảm thấy sợ hãi bị đe dọa hơn là cho trẻ cơ hội thể hiện quyền lực.

10. Cả hai cùng thắng

Các cuộc tranh giành quyền lực thường đi đến kết cục một người thắng một người thua – một kết cục không phải lúc nào cũng hay ho như thường tưởng. Một giải pháp ‘cả hai cùng thắng’ là giải pháp trong đó cả hai phía đều cảm thấy mình đạt được cái mình muốn. Để cả hai bên cùng thắng đòi hỏi phải có sự mặc cả thương lượng. Cha mẹ có thể đáp lại yêu cầu của trẻ bằng cách nói, ‘Con thắng như vậy cũng được đấy, và mẹ muốn con thắng. Nhưng mẹ cũng muốn thắng. Con có thể nghĩ ra cách gì để cả hai mẹ con ta cùng thắng không?’

11. Sự bất lực nuôi dưỡng ‎tư tưởng muốn trả thù

Những trẻ em bị tước đoạt hết quyền lực, cảm thấy bất lực, thường tìm cách giành lại quyền lực bằng cách trả thù. Chúng sẽ tìm cách gây tổn thương cho người khác khi chúng cảm thấy bị tổn thương, và chúng thường có những hành vi mà cuối cùng lại làm tổn thương bản thân chúng. Khi 2-3 tuổi, sự trả thù có thể có hình thức cãi lại hay cố ‎ đánh đổ đồ ăn. Ở tuổi 16-17, có thể là dùng các chất bị cấm hay uống rượu, trốn đi khỏi nhà, thậm chí tự tử. Hãy cố gắng tạo cơ hội thích hợp cho trẻ được thực hành và thể hiện quyền lực của mình. Đó cũng là cách để chúng tập đưa ra những quyết định đúng đắn và xây dựng lòng tự tin.

12. Đánh trẻ có tác hại gì?

– Làm cho trẻ cảm thấy phẫn uất, bực tức.
– Làm cho trẻ trở nên lì đòn, ngang ngạnh, cứng đầu, thách thức mọi người.
– Làm cho trẻ cảm thấy bị nhục nhã, gây tổn hại cho lòng tự tin.
– ‘Dạy và huấn luyện’ cho trẻ biết cách dùng bạo lực để đoạt được cái gì đó.
– Có thể gây thương tích cho trẻ.

Bạo lực sẽ quay vòng, sẽ kéo theo bạo lực. Bạo lực cấp 1 rồi sẽ đòi hỏi bạo lực cấp 2. Hãy ghi nhớ ‘lạt mềm buộc chặt’.

13. Khen trẻ thế nào?

Tình thương yêu, vẻ mặt, cử chỉ, ngôn từ của chúng ta giúp trẻ xây dựng một hình ảnh được yêu và đáng yêu về bản thân chúng. Khen ngợi sẽ khuyến khích trẻ đương đầu với những thách thức mới và bật lại mỗi khi sự việc không diễn ra như chúng muốn. Ai mà chả thích được khen. Nhưng khen thế nào để đạt hiệu quả?

Lời khen của chúng ta sẽ có tác dụng nếu chúng ta tiến lại gần đứa trẻ, thu hút sự chú ‎ của nó bằng cách gọi tên nó và nhìn thẳng vào mắt nó rồi nói rõ ràng chính xác là chúng ta thích cái gì. Ví dụ, ‘Jane, thế là con biết đánh răng rồi. Tốt/Khá lắm’. Hoặc ‘Chip, cảm ơn con đã giúp mẹ thu dọn đồ chơi. Con làm tốt lắm’. (xem thêm mục 14)

Lời khen của chúng ta sẽ phản tác dụng nếu trẻ cảm thấy nó không chân thành, không tương xứng với vẻ mặt và giọng nói của chúng ta. Nên tránh khen rồi lại đèo thêm một chỉ trích sau đó vì điều này sẽ làm lời khen mất hết tác dụng. Chẳng hạn, xin đừng nói, ‘Roy, con thu giường giỏi quá – thật đáng xấu hổ là con không làm như thế hàng ngày!’ hay ‘Lily, con biết tự ăn rồi đấy – thật đáng tiếc là hôm qua con lại đánh vào mặt Mary!’

14. Khen đánh giá hay khen miêu tả? (evaluative or descriptive)

Ví dụ:

– Đánh giá: Con mẹ vẽ đẹp quá!/Con mẹ khỏe quá!
– Miêu tả: Mẹ rất thích những chi tiết con dùng trong bức tranh này. Những màu con chọn cũng rất sống động./ Cái túi nặng quá! Cảm ơn con đã giúp mẹ!

Các nhà sư phạm/tâm lí khuyên các bậc cha mẹ nên sử dụng lời khen miêu tả thay cho lời khen đánh giá vì lí do sau. Lời khen đánh giá làm trẻ trở nên lệ thuộc vào sự đánh giá và phê chuẩn của người lớn. Chúng mong đợi chúng ta đánh giá thẩm định những việc làm hay hành vi của chúng là tốt hay xấu là được hay chưa được, do vậy chúng sẽ không phát triển được khả năng tự đánh giá và tính độc lập. Chúng dần mất đi khả năng tự đánh giá hành vi của bản thân mình và luôn trông chờ sự đánh giá ‘chấm điểm’ của người lớn.

Khen miêu tả là tạo cơ hội để trẻ được tự đánh giá mình – nói theo cách nhiều người thường nói là để trẻ được âm ỉ thỏa mãn trong lòng. Nếu bạn muốn con gái mình tập trung chú ‎ vào hiệu quả của việc nó vừa làm với bạn Mary, bạn có thể nói, ‘Con nhìn Mary kìa! Bạn ấy trông thật là vui vì con đã cho bạn ấy mượn đồ chơi.’ Bằng cách này, chúng ta giúp trẻ nhận ra hành vi của chúng có tác động như thế nào lên người khác.

Một lời khen miêu tả thường có hai phần. Phần thứ nhất bạn nói những gì bạn nhìn thấy hay nghe thấy. Phần thứ hai nói bạn cảm thấy thế nào. Ví dụ: Mẹ thấy phòng của con hôm nay rất gọn gàng. Mẹ cảm thấy không mệt nữa.’ hoặc ‘Con làm đúng như mẹ yêu cầu. Cảm ơn con’.

Kết luận: hãy hạn chế khen vã (khen đánh giá) và hãy tập và tăng cường khen miêu tả. Nhưng hãy ghi nhớ: đừng bao giờ dùng lời khen miêu tả khi bạn nóng giận vì khi đó nó sẽ có vẻ như mỉa mai nói móc. Và cũng không khen những gì đã trở thành thói quen tốt.

Advertisements

Dạy ngoại ngữ cho trẻ

Định dạng bài viết: Tiêu chuẩn

Suu tam tu Webtretho.com

Chào tất cả các ông bố bà mẹ,
Thấy ngoại ngữ đang là một vấn đề sôi nổi và đáng quan tâm của bố mẹ, tweety bird cũng nổi máu nghề nghiệp nên quyết mở cái topic này để trao đổi quan điểm học ngoại ngữ với bố mẹ. Nghĩ đi nghĩ lại thì tôi có khá nhiều “thẩm quyền” để chia sẻ kinh nghiệm, thứ nhất là vì tôi vốn xuất thân là học về phương pháp phát triển ngôn ngữ và dạy ngoại ngữ, thứ 2 là tôi cũng có nhiều kinh nghiệm bản thân về học ngoại ngữ (nói được 3 thứ tiếng, hihihi: Tiếng Anh, Tiếng Nga và tiếng…Hà Nội, vốn là dân Nghệ An, bây giờ không ai biết thì tôi đã master tiếng Hà Nội như tiếng mẹ đẻ rồi, hihihi); thứ 3 là mọi kinh nghiệm chia sẻ với các bố mẹ đây thì tôi đều đã thử nghiệm hết lên hai đứa “chuột bạch” nhà tôi bây giờ 7 tuổi và 5 tuổi (một đứa thì tiếng Anh tiếng Việt ngang nhau, một đứa thì bây giờ buổi tối chỉ nói tiếng Anh và không thể che giấu được điều gì với nó nữa rồi vì mẹ và chị nói kiểu gì bằng tiếng Anh nó cũng hiểu và bắt bẻ lại) và lên các học sinh của tôi, qua 2-3 tháng học thì đã có thể nói no và yes mỏi cả mồm, accent cực kỳ hay.
Trước hết, phải nói qua về phương pháp dạy tiếng Anh hiệu quả nhất hiện nay.
Hiện nay cái phương pháp dạy tiếng Anh hiệu quả nhất mà hầu hết tất cả các trung tâm Anh ngữ có giáo viên bản ngữ dạy là cái phương pháp gọi là immersion language teaching, hay còn gọi là content-based, với 2 nguyên tắc chính: 1/ném trẻ con vào môi trương ngôn ngữ đó và nó sẽ tự xoay xở; 2/dạy nội dung qua ngôn ngữ, tức là cái focus không phải ở ngôn ngữ mà là ở nội dung mà ngôn ngữ đó truyền tải. Bà con ngày xưa học ngoại ngữ trong trường học chắc đều nhớ là bao giờ cũng có mẫu câu, phải thuộc cái mẫu câu đó rồi sau đó thì biết là dùng trong trường hợp nào, đúng không? Chúng ta toàn học theo cách đó, và bây giờ trong các trường người ta vẫn dạy cách đó, nên trẻ con học hết cấp III rồi vẫn chẳng thốt lên được một câu để giao tiếp tiếng Anh với người nước ngoài. Với cách dạy immersion language teaching, trẻ con sẽ được giới thiệu với topic, học xung quanh topic đó một cách tự nhiên và ngôn ngữ thì tự nó thấm vào một cách tự nhiên. Nôm na nó là như thế, nên chúng nó không phải băn khoăn là à, bây giờ thế này thì phải nói thế nào nhỉ, như người lớn chúng ta học ngoại ngữ vẫn thường phải thế.
Vì vậy, khi chọn chỗ học ngoại ngữ cho con mà các bố mẹ thấy cô giáo dạy kiểu như là: Apple là quả táo, các con nhớ chưa, thì xin bố mẹ hãy tránh ra xa, các con sẽ có một đống từ lộn xộn trong đầu và có thể biểu diễn được cho bố mẹ biết là apple là quả táo, banana là chuối nhưng vô hình chung là khả năng ngôn ngữ của các con đang bị kìm hãm đấy, sẽ giải thích rõ hơn vấn đề này sau.
Các nguyên tắc học ngoại ngữ chính:
1. Học càng sớm càng tốt. Một số ý kiến cứ nói là trẻ con nhỏ biết gì mà học, tiếng Việt còn chưa sõi… Các bố mẹ có biết là hiện tại, ở đâu tôi không nhớ, hôm nọ đọc trên CNN hay gì đó, có trường dạy ngoại ngữ cho trẻ 6 tháng tuổi không, và waiting list thì thôi rồi, cung không đủ cầu. Đơn giản bố mẹ cứ đặt con mình vào địa vị một đứa con lai, nó phát triển 2 ngôn ngữ cùng một lúc và đồng đều như nhau (với một điều kiện, sẽ giải thích sau), vì nó tiếp xúc với hai ngôn ngữ từ khi nó mới sinh ra. Đối với trẻ nhỏ thì Tiếng Việt cũng là ngoại ngữ khi chúng nó còn nhỏ, đúng không? Vì thế học ngoại ngữ càng sớm thì khả năng phát triển ngôn ngữ như tiếng mẹ đẻ lại càng cao. Bên cạnh đó, việc học ngoại ngữ sớm không chỉ giới hạn ở việc nó giỏi cái ngoại ngữ đó, mà còn làm cho trẻ thông minh, phát triển hơn vì đối với trẻ nhỏ, phát triển ngôn ngữ là quan trọng, và ngôn ngữ phát triển làm trẻ nhỏ sẽ khá hơn trong tất cả mọi lĩnh vực khác.
2. Phân biệt rạch ròi hai ngôn ngữ: Lại nói về con lai, đúng là có những đứa nói hai thứ tiếng rạch ròi, không lẫn lộn, và tốt như nhau, còn có những đứa lại bị loạn ngôn ngữ. Một vấn đề rất đơn giản thôi: Bố mẹ nói lẫn lộn. Nếu bố là người Anh chỉ nói tiếng Anh với con và nếu mẹ người Việt chỉ nói tiếng Việt không thì đứa bé sẽ phát triển được hai ngôn ngữ song song như thế, ngược lại nếu cả bố lẫn mẹ dùng cả hai thứ tiếng lẫn lộn ngay từ khi con còn bé thì hậu quả loạn ngôn ngữ là vô cùng cao, vì khi đó não bộ đứa trẻ không phân biệt được hai ngôn ngữ khác nhau, và nó mất đi khả năng phản xạ cần thiết nhất khi con người cần giao tiếp với nhau: nếu đứa trẻ biết mẹ nó chỉ hiểu tiếng Việt, nó sẽ phải tập nói tiếng Việt để mẹ nó hiểu nó, tương tự với bố…Vì vậy, thực sự nếu không đủ điều kiện để phát triển song song hai ngôn ngữ từ khi còn rất là nhỏ (ví dụ bố mẹ không có khả năng nói tiếng Anh, hay không có khả năng thuê một cô bảo mẫu nói tiếng Anh từ khi con còn rất bé, hay môi trường không cho phép – nếu con bạn là người Việt và bạn đang ở nước ngoài chẳng hạn, thì đó là môi trường lý tưởng để phát triển hai ngôn ngữ song song) hãy đợi con đến 3-4 tuổi và bắt đầu, thì chúng nó sẽ biết được đấy là ngôn ngữ thứ 2 vì tiếng Việt đã khá là phát triển.
3. Học ngôn ngữ như là công cụ giao tiếp và nhận thức cái nội dung cần truyền tải. Ví dụ khi bạn nói với con apple có nghĩa là quả táo thì bạn đang cho con học ngoại ngữ như là học ngoại ngữ thực sự, nhưng khi bạn cầm quả táo và nói: apple, tưởng đơn giản nhưng mà là khác hoàn toàn: con bạn sẽ link thẳng cái object đấy với cái từ đấy, và khi nó nhìn quả táo nó sẽ bật ra được apple, tạo điều kiện sau này khi cần dùng ngôn ngữ nào thì nó phải NGHĨ bằng ngôn ngữ đó, mà điều này quan trọng vô cùng. Cụ thể: nếu nó cần nói nó muốn quả táo nó sẽ bật ra luôn I want that apple, chứ không phải nó sẽ nghĩ là: mình muốn quả táo đó, phải nói là Tôi muốn quả táo đó, tức là I want that apple và sau đó thì mới nói ra. Lúc chúng tôi sang Nga thì đã học một năm dự bị ở nhà, và các nước khác thì họ không học ở nhà trước như VN, sang đến bên Nga họ chẳng có một tý vốn nào, nhưng mà họ học nhanh hơn và khả năng bật cao hơn rất nhiều, đơn giản như tôi đã giải thích ở trên, họ link thẳng mọi thứ đến ngôn ngữ, không phải qua bất cứ một cái cầu nối nào.
4. Học ngoại ngữ phải kiên trì: Một số bố mẹ cho con đi học thì rất sốt ruột muốn biết kết quả ngay, phải biết con biết từ này và nói được câu này. Vô hình chung là đầy đọa mình và con mình đấy, vì hầu hết không có super kid, tất cả theo một quỹ đạo rất bình thường: mưa lâu thấm dần, và nó chỉ nói khi nó thấy cần thiết, hay khi nó thích…Con tôi sang Úc 3 tháng chẳng thốt lên một từ nào, mẹ cũng kệ, chỉ cho nó xem đĩa tiếng Anh, nói tiếng Anh với nó, giải thích bằng tiếng Anh, hiểu đến đâu thì hiểu, đến lớp thì 1 tuần đầu người ta cho phiên dịch đến, được một tuần mẹ cháu yêu cầu thôi mặc dù chính phủ trả tiền, và nó tự xoay xở. Cho đến một hôm dẫn nó đến nhà bạn chơi thì thấy nó tuôn ra cả tràng, accent đặc Úc. Bất ngờ quá, và từ đó thì nó còn yêu cầu mẹ là không dùng tiếng Việt với nó, hậu quả là khi về nhà phải mất 2 tháng mới nói lại được tiếng Việt. Vì thế, bố mẹ đừng có sốt ruột, lúc nào nó bật ra thì nó sẽ bật ra, còn không, nó vẫn đâu đó trong đầu chúng nó đấy.
5. Học chuẩn ngay từ đầu: Accent không quan trọng, người ta có thể nói giọng Úc, giọng Mỹ, giọng Sing… nhưng apple phát âm phải là apple. Thiết nghĩ là bố mẹ đừng quá câu nệ người bản xứ với không bản xứ một cách thái quá. Được bản xứ mà có chứng chỉ là quá tốt rồi nhưng bây giờ Tây ba lô nhiều lắm. Người nước ngoài với một giọng chuẩn là ổn, vì người nước ngoài có 2 lợi thế hơn so với người Việt: trẻ con bắt buộc phải nghe và hiểu họ vì họ không nói và không hiểu được tiếng Việt (khả năng phản xạ đã nói ở trên); và nói gì thì nói, phương pháp dạy của họ luôn tiên tiến hơn, họ cũng giỏi khuấy động phong trào hơn người Việt mình, không ngại nhảy, không ngại hát, không ngại nói và họ vẫn có 1 lợi thế hơn với các giáo viên bản xứ đấy: họ thường có bằng cấp tử tế hơn và có kinh nghiệm của bản thân mình khi sử dụng ngôn ngữ thứ 2!!! Nói thế không phải là người Việt mình tiếng Anh không giỏi, đơn giản là giáo viên Việt Nam có giọng chuẩn thì hầu hết phải tu nghiệp tốt nghiệp ở nước ngoài, mà những người đó về thì 1/không đi dạy tiếng Anh giá thấp, giá của họ cũng phải bằng người nước ngoài, mà image thì lại không bằng người nước ngoài vì không phải mác bản xứ; 2/họ thường chỉ dạy đại học hay các khóa học cao cấp;3/khả năng tạo fun của họ vẫn kém người nước ngoài!!! Túm lại: vẫn phải người không phải Việt Nam dạy cho trẻ em là tốt nhất.
6. Học dưới nhiều hình thức: Cứ tưởng tượng con bạn ở nước ngoài, nó sẽ giao tiếp với người nước ngoài, nó sẽ xem TV nước ngoài, nghe nhạc nước ngoài…Vậy nên hãy cố tạo cho con bạn một môi trường ngôn ngữ như thế: Xem TV bằng tiếng Anh (đĩa, cable TV), nghe nhạc tiếng Anh, kể cả nhạc người lớn, giao tiếp với người nước ngoài (đi học, đi giao lưu). Mà cũng đừng bắt con chỉ xem mấy cái đĩa học Tiếng Anh, nhanh chán lắm, cho chúng nó xem phim bằng tiếng Anh là ổn nhất. Một công đôi việc đấy: 1/chúng nó phải suy nghĩ và đoán khi chúng nó không hiểu, làm giảm tác hại của TV là hạn chế sức suy nghĩ của con người; 2/học tiếng Anh qua nội dung (content-based) mà lại hấp dẫn. Nếu con bạn không thích xem, hãy khuyến khích chúng nó bằng cách ngồi cạnh và sau đó thì kể thêm về các nhân vật đó, và để cái interest của chúng nó luôn luôn nóng hổi, hãy chọn các phim có nhiều series, kiểu như pooh hay barbie, hay strawberry shortcake, hay totally spices dang chieu tren disney channel, nhân vật thân thuộc nhưng sự kiện lại luôn luôn mới. Máy tính và internet cũng là một nguồn học tiếng Anh tốt, các trò chơi bằng tiếng Anh cũng tốt vì chúng nó phải nghe và làm theo instructions ở đó, và điều căn bản là chúng nó thích. Vấn đề hạn chế thế nào thì bố mẹ biết rồi.
7. Điều không nên làm: Đừng bao giờ hỏi con quả táo bằng tiếng Anh là gì con nhỉ nhé. Điều tối kỵ đấy. Thay vào đấy, cầm quả táo lên và hỏi: What is this?
Hy vọng những thông tin trên bổ ích. Các bố mẹ có nhiều kinh nghiệm hay thì cùng chia sẻ nhé.
Cheers,
Tweety bird